Phân tích “Thương vợ” của tác giả Tú Xương

Phân tích “Thương vợ” của tác giả Tú Xương

0 Comments

Thương vợ là bài thơ hay ghi lại tình yêu chân thành của tác giả Tú Xương dành cho người vợ của mình. Trong đó vừa có sự cảm thông, chia sẻ và biết ơn sâu sắc vừa là lời tự thán, tự trách bản thân mình về trách nhiệm của một người chồng. Dưới đây là những lời phân tích Thương vợ của Tú Xương để các bạn hiểu rõ hơn về bài thơ.

Phân tích thương vợ
Phân tích Thương Vợ của Trần Tế Xương

Việc mưu sinh vất vả của bà Tú – Phân tích Thương Vợ 4 câu đầu

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Chỉ bằng vài lời kể nôm na, bình dị, Tú Xương đã giúp cho người đọc hình dung ra được cảnh bà Tú đang một mình mang trên vai gánh nặng gia đình. Bà phải lặn lội nơi đầu sông, bến chợ để kiếm tiền.

Mom sông chính là một mỏm đất nhô ra giữa dòng sông, đây cũng là một địa điểm khá nổi tiếng ở phía Bắc của thành phố Nam Định. Ngày xưa, đây là nơi trên bến dưới thuyền, người từ các nơi khác đổ về buôn bán. Quanh năm, bà Tú làm ăn ở đó để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống của gia đình gồm hai vợ chồng và năm đứa con thơ.

Quanh năm buôn bán nghĩa là không có ngày nghỉ ngơi nào. Hơn nữa, chữ mom sông lại càng tô đậm thêm sự chênh vênh, bấp bênh của công việc này. Mom sông ba bề là nước và có thể đổ ùm xuống sông lúc nào không hay biết. Hình ảnh bà Tú dường như càng nhỏ bé và cô đơn khi đứng trên mỏm đất đó. Một mình bà phải xông pha nơi đầu sông ngọn nguồn, rất vất vả và tội nghiệp biết bao. 

Vậy tại sao bà Tú lại chấp nhận sự lam lũ, vất vả như thế? Đương nhiên là để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con. Ngày xưa, trong xã hội phong kiến thì người phụ nữ có bổn phận là thờ chồng, nuôi con. Với bà Tú thì lại càng chắc chắn về chuyện thờ chồng. Thờ chồng ở đây bao hàm cả nghĩa vụ nuôi chồng. Đó chính là sự bất công của xã hội, nhưng khi xét về mặt đức độ thì sự đảm đang tháo vát của những người vợ như bà Tú thật đáng nể phục.

Phân tích thương vợ ngắn gọn
Phân tích Thương Vợ ngắn gọn – Hình ảnh người vợ tần tảo, vất vả

Cái không bình thường trong bài thơ này là cách đếm số người. Khi tính gộp lại là sáu miệng ăn mà có một mình bà Tú phải cáng đáng hết mọi việc. Đằng này, tác giả lại đếm rõ ràng là năm con với một chồng. Đặc biệt là cách viết tách riêng ông chồng ra và đếm là một. Xuân Diệu sau khi đọc câu thơ này đã cso nhận xét rất hay như sau: “Hoá ra ông chồng cũng phải nuôi, tựa hồ giống như lũ con bé bỏng nên mới được đếm ngang hàng với chúng nó: một miệng ăn, hai miệng ăn,…”.

Bà Tú nuôi chồng lại đâu có đơn giản như nuôi con. Cơm ăn đã đành, đôi khi lại còn phải có tí rượu, tí trà cho ông ngâm nga câu thơ, câu phú. Áo mặc đã đành, còn phải là bộ cánh tử tế để cho ông đi đây đi đó, chứ ai lại để cho ông quanh năm “Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông” và “Một đoàn rách rưới con như bố”. Ngoài ra, lại phải cho ông xổng xểnh ít tiền trong túi để lúc gặp bạn, gặp bè có cái để tiêu. Ấy thế mà bà Tú nuôi đủ, tức là đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Như vậy, bà Tú không chỉ có nuôi ông Tú mà còn phải cung phụng, phải thờ.

Nhưng khi kể ra được những điều ấy thì chứng tỏ tác giả là ông chồng rất thấu hiểu và biết đánh giá công lao của người vợ, như vậy là thương vợ.

Đến câu thứ ba, hình ảnh của bà Tú một mình thui thủi làm ăn lại càng hiện lên cụ thể và rõ nét hơn:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Tú Xương đã dùng một hình tượng rất quen thuộc trong văn chương dân gian để nói về người phụ nữ lao động ngày xưa. Đó chính là: “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng ông lại không so sánh mà đồng nhất thân phận của bà Tú với thân cò. Tấm thân mảnh dẻ, yếu đuối của bà Tú phải chịu dãi nắng dầm sương, lặn lội sớm trưa. Nghĩa đen của từ này cũng đã gợi ra cái vất vả, khó nhọc trong nghĩa bóng. Tấm thân cò ấy lại lặn lội trên quãng vắng, đường xa. Quãng vắng thể hiện sự lẻ loi, hiu quạnh, không biết nương tựa vào đâu và luôn có những nguy hiểm bất trắc đối với thân gái dặm trường. Eo sèo là sự nói qua nói lại, thể hiện ý bất bình. Đò đông có thể được hiểu theo hai cách là: đò ngang đã chở đầy người hoặc là đò từ các nơi tập hợp lại ở một nơi rất đông. Các bạn hiểu theo cách nào cũng đúng với ý định đặc tả về nỗi khó nhọc, gian nan trong cảnh kiếm ăn của bà Tú.

Phân tích thương vợ lớp 11
Phân tích Thương Vợ lớp 11 hay nhất

Bên cạnh nỗi khổ về vật chất thì còn có nỗi khổ về tinh thần. Vì chồng con mà phải lặn lội đường xa quãng vắng nhưng liệu chồng con có biết được. Bà Tú cứ âm thầm một mình lo toan như vậy cho đến hết đời. Câu thơ miêu tả đầy chất trữ tình, nghe mà xót xa, tội nghiệp. Ông Tú đã tỏ ra thông cảm với nỗi khó nhọc của vợ và yêu thương vợ sâu sắc.

Ông hiểu thấu được công việc làm ăn vất vả của bà Tú. Khi quãng vắng hay buổi đò đông, bà đều vất vả khó nhọc, không quản thân mình, không kể gian nan, một lòng vì chồng và vì con. Bà Tú mà nghe được những lời của ông chắc chắn cũng thấy gánh nặng trên vai nhẹ bớt và được an ủi ít nhiều.

Trong 4 câu thơ còn thể hiện bằng giọng điệu trữ tình, chứng tỏ trái tim ông Tú không phải là dửng dưng. Ông thương vợ nhưng cũng tự trách bản thân mình. Ông không phải chỉ coi mình là một miệng ăn để vợ phải nuôi mà còn cảm thấy hổ thẹn, thấy mình có cái gì đó như sự nhẫn tâm. Ông chồng là trụ cột gia đình mà ở đâu rồi để vợ phải nhọc nhằn và gian nan đến vậy? Sự tự trách như thế cũng thể hiện được tác giả yêu thương vợ sâu sắc.

Xem thêm: 3 mẫu tóm tắt lặng lẽ Sa Pa hay, ngắn gọn và xúc tích

Đức tính cao đẹp của bà Tú

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Tú Xương lại sử dụng thêm một thành ngữ và một câu ca dân gian khác, đó là: “Vợ chồng là duyên là nợ, Một duyên hai nợ ba tình,…” Vợ chồng gặp nhau là do ông Tơ bà Nguyệt đã sắp đặt từ kiếp trước. Có duyên thì tốt đẹp và hạnh phúc, là nợ thì sẽ đau khổ một đời.

Đức tính cao đẹp của bà Tú trong bài thương vợ
Phân tích Thương Vợ 11 – Sự vất vả của người phụ nữ được khắc họa rõ nét

Có lẽ ở đây, ông Tú muốn mượn tâm tư bà Tú để suy ngẫm. Hay đúng ra, ông hóa thân vào vị trí của bà để có sự cảm thông sâu sắc hơn: Lấy chồng như thế này thì cũng chỉ là duyên hoặc nợ thôi, số phận đã như thế thì cũng đành chịu. Cho nên dù có khổ cực bao nhiêu, năm nắng mười mưa thì cũng phải chịu, phải lo.

Lấy vợ lấy chồng là duyên là nợ thì cũng đúng thật nhưng số phận đã như thế thì cũng đành chịu, chứ biết làm sao được. Cái số kiếp của người phụ nữ như tấm lụa đào, như con thuyền lênh đênh mười hai bến nước, như hạt mưa sa,… Trách làm sao được!

Âu đành là một sự bất đắc dĩ, phải xếp lại, nén xuống những gì thấy bất bình, tủi nhục. Dám quản tức là không muốn kể đến công lao gì cả. Đây chính là thái độ chấp nhận, gánh chịu tất cả mọi sự nhọc nhằn. Âm thanh nặng nề của từ phận ở cuối câu lại càng làm cho câu thơ thể hiện rõ cảm xúc đã bị dồn nén vào trong.

Vậy là chỉ với sáu câu thơ mà chân dung của bà Tú đã hiện lên hoàn chỉnh. Từ sự vất vả bon chen, phải lăn lộn ở ngoài đời, đến lo liệu trong gia đình. Từ con người của công việc làm ăn, chịu thương chịu khó, đảm đang tháo vát đến con người của đức độ, thảo hiền và đầy lòng vị tha. Hình ảnh bà Tú là tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, người mẹ Việt Nam.

Ông Tú đã đặt vào vị trí của bà Tú để thấu hiểu được nỗi niềm và thể hiện tình cảm của mình bằng những lời thơ chân thành rất thấm thía. Đó chính là thương vợ và sự tự trách bản thân mình. Ngày ngày chỉ ngồi không, làm một miệng ăn để vợ nuôi, hưởng thụ trong khi vợ phải vất vả ngược xuôi. Nay vợ lại thầm oán trách, tủi hờn mà quy cho số phận bất hạnh là do một duyên hai nợ. Thử hỏi ông làm sao mà không nhận thấy lỗi của mình? Chính sự tự trách như vậy còn thể hiện ông là người có ý thức trách nhiệm.

Hình ảnh ông Tú và thói đời bạc bẽo

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.

Hai câu kết chính là tiếng chửi đổng cho cái thói đời ăn ở bạc bẽo như thế. Không phải đây là lần đầu ông Tú chửi như thế, trong bài “Gặp người ăn xin” ông cũng đã từng chửi: “Người đói, ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào có, tiếc không cho”. Chỉ khác ở chỗ là lần này, lời chửi của ông tuy có hướng trực tiếp vào đời, nhưng trước hết là ném vào mình đã. Để tự trách bản thân mình thì ông lại càng phải chửi. Mà ông còn phải đặt câu chửi ấy vào miệng bà Tú thì mới thích đáng. Nhưng bà Tú lại vốn con gái nhà dòng, chẳng đời nào bà lại chanh chua, thô tục chửi chồng. Nhưng ông Tú đã tự trách bản thân đến mức phải bật ra tiếng chửi như thế. Bài thơ này ông viết ra cốt là để bày tỏ tình thương yêu, sự quý trọng người vợ đảm đang và tự trách bản thân mình là đồ tầm thường, vô tích sự.

Hình ảnh ông Tú trong tác phẩm thương vợ
Phân tích Thương Vợ ngắn gọn đủ ý cho thấy phận đời bạc bẽo của người phụ nữThương vợ là bài thơ hay ghi lại tình yêu chân thành của tác giả Tú Xương dành cho người vợ của mình.

Bà Tú đã vất vả đến thế, ông tự trách mình thì đương nhiên phải bực bội đến mức bật ra tiếng chửi. Nhận lỗi là chưa đủ, ông còn nguyền rủa mình bằng câu chửi đổng mới xứng với tội lỗi. Ông Tú lại chẳng hề dè dặt gì với chữ nghĩa mà dùng luôn cách chửi của dân gian là “Cha mẹ thói đời”.

Bà Tú không hề coi chồng là kẻ ăn ở bạc, nhưng ông Tú thì lại gọi đích danh tội lỗi của mình ra. Vợ chồng với nhau mà như thế thì còn gì mà ông Tú lại không nói trực tiếp là mình ăn ở bạc. Ông còn khái quát nó lên thành thói đời. Cái thói đời đen bạc tượng trưng cho chính bản chất của xã hội kim tiền trong thời thực dân phong kiến. Hoá ra chính đệ tử của thánh hiền là ông Tú mà cũng bị nhiễm cái thói đời xấu xa ấy. Như vậy, từ sự hổ thẹn, ông Tú đã đi tới chỗ xót xa và tự trách.

Câu kết là sự phán xét vô cùng đau đớn nhưng cũng rất công minh. Ôg Tú xỉ vả mình là kẻ ăn ở bạc nhưng xét ra cái bạc ấy cũng chỉ mới dừng ở mức hờ hững. Hờ hững trước việc nhà, trước sự vất vả, lo toan và trước thái độ cam chịu của vợ. Đã là vợ chồng thì trăm sự cùng lo mới phải. Bà Tú không hề bắt buộc ông vất vả như bà mà chỉ mong ông đừng có hờ hững, hãy quan tâm và lo cho gia đình chút ít. Nhưng trước hết là ông phải hiểu cho bà, như thế thôi cũng đủ làm cho bà ấm lòng và vui vẻ.

Bài thơ “Thương vợ” chính là tiếng lòng của tác giả dành cho người vợ đã tần tảo, vất vả kiếm tiền nuôi gia đình. Qua đó, nhân cách đẹp của Tú Xương cũng được bộc lộ rõ hơn khi dám lên tiếng chia sẻ về sự vất vả của người vợ và thấy xấu hổ khi không thể đỡ đần được gì cả. 

Trả lời